RSS

Mô hình trọng cung (P6)

16 May

Các quốc gia trên thế giới bao gồm cả Việt nam đều theo mô hình trọng Cầu có nghĩa là ham tác động vào tổng cầu. Các chính sách đều xoay quanh việc điều chỉnh tổng cầu. Khi cần kiềm chế lạm phát thì giảm tổng cầu thông qua thắt chặt tiền tệ, thắt chặt chính sách tài khóa. Khi cần kích thích tăng trường thì làm tăng tổng cầu thông qua nới lỏng chính sách tiền tệ, nới lỏng chính sách tài khóa. Entry này ta sẽ tập trung nghiên cứu tổng cung, các chính sách liên quan tới tổng cung.

Tổng cung là tổng sản lượng mà doanh nghiệp muốn bán của một quốc gia. Khi giá tăng doanh nghiệp có xu hướng tăng cường sản xuất nhờ vậy sản lượng tăng và ngược lại. Tuy nhiên sản lượng sản xuất ra lại còn phụ thuộc vào nguồn lực đầu vào nữa vì vậy cá tác nhân tác động làm dịch chuyển tổng cung là các yêu tố đầu vào. Tất nhiên là sản lượng sản xuất ra còn phụ thuộc vào tổng cầu, có nghĩa là nhu cầu của khách hàng, thể hiện điều này thông qua giao cắt giữa tổng cung và tổng cầu; có nghĩa là sản lượng sản xuất ra tương đương với sản lượng nhu cầu ở một mức giá mà hai bên đều thỏa mãn.

Hiểu đơn giản giao  cắt này như sau. Giả sử như nhu cầu của người dân mua gà tại một cái chợ là 100 con gà. Để đáp ứng nhu cầu tổng số gà được mang đến chợ này là 100 con gà và bán với giá là 100.000 đ/con. Bỗng nhiên một ngày đẹp trời, tổng cầu vượt lên 110 con gà trong khi tổng cung vẫn là 100 con. Người bán hàng thấy tổng cầu tăng thì tăng giá bán lên 110.000 đ/con. Do giá tăng lên vì vậy một số người có nhu cầu mua gà thôi không mua gà nữa, số gà bán ra ngày hôm đó vẫn là 100 con nhưng ở mức 110.000 đ/con. Ngày hôm sau, người bán hàng thấy lợi mang tới chợ 110 con gà, nhu cầu mua vẫn là 110 con gà. Do số cung và số cầu bằng nhau hai bên thỏa thuận lại về mức 100.000 đ/con. Như vậy ta thấy giao nhau của tổng cung tổng cầu chính là ở mức giá mà hai bên thỏa thuận được.

Nếu xét ở một cái chợ thì có thể là người bán lấy hàng ở một cái chợ khác mang sang để thỏa mãn nhu cầu và vì vậy mức giá luôn xoay quanh mức giá cân bằng nhưng nếu xét ở tầm quốc gia thì vấn đề lại khác. Khi tổng cầu hay tổng cung của một quốc gia thay đổi thì sẽ tạo ra mức giá mới (lạm phát khi giá tăng và giảm phát khi giá giảm).


Tác động vào tổng cung bởi các cú sốc tại đầu vào như sau:

– Cú sốc Dầu mỏ và năng lượng:  Khi giá dầu, giá điện tăng thì chi phí đầu vào tăng khiến cho tổng cung giảm, đường tổng cung dịch chuyển sang trái -> làm sản lượng giảm. Có nghĩa là việc sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giờ sẽ tốn chi phí hơn làm cho các doanh nghiệp cân nhắc việc giảm hoặc ngừng sản xuất. Và ngược lại.

– Cú sống khoa học kỹ thuật/ công nghệ:  Phát kiến ra một công nghệ sản xuất mới làm tiết kiệm chi phí đầu tư nhờ vậy tổng Cung tăng -> sản lượng tăng lên. Có nghĩa là với cùng một mức đầu từ giờ doanh nghiệp có thể sản xuất được nhiều hơn.

– Cú sốc về tiền lương: Khi chính phủ tăng lương cơ bản, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc tăng lương theo làm cho đường tổng cung giảm -> Sản lượng giảm.

– Nguồn nhân lực: Trình độ nhân lực cao làm tổng cung tăng; hoặc số người trong độ tuổi lao động đông khiến cho tổng cung tăng. Tương tự với nhật bản khi dân số già đi thì tổng cung giảm.

– Xu hướng tiết kiệm hoặc đầu tư: Nếu người dân thấy việc kinh doanh là mạo hiểm có thể họ thay vì đầu tư thì chuyển sang tiết kiệm hoặc ngược lại khiến cho tổng cung tăng hoặc giảm.

– Thay đổi tỷ giá: khi tỷ giá tăng có thể làm hàng hóa nội địa có lợi thế cạnh tranh hơn giúp các sản phẩm xuất khẩu tăng cường sản lượng; ngược lại nó cũng sẽ làm các nhà nhập khẩu hạn chế hơn …

Về nguyên tắc mỗi chính sách đều tác động vào cả đường tổng cung lẫn tổng cầu nhưng chúng ta thường giả định là một đường sẽ không thay đổi để phân tích đường kia. Ví dụ khi ngân hàng thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng để làm giảm lãi suất cho vay ra  của ngân hàng thương mại. Người dân sẽ tăng cường  vay chi tiêu, hoặc do lãi suất huy động thấp khiến cho người tiêu dùng không hứng thú gửi tiền ngân hàng mà quay sang chi tiêu hoặc đầu tư vào nhà đất, vàng. Nhờ vậy mà tổng cầu tăng; nhưng mặt khác lãi suất cho vay gắn liền với chi phí tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ được vay vốn với chi phí thấp hơn nhờ vậy họ tích cực đầu tư hơn, sản lượng đầu ra tăng lên làm cho tổng cung tăng lên.

Tuy nhiên ta thấy là từ lúc ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay đến lúc sản lượng tăng lên có thể kéo dài nhiều tháng, nhiều quý, trong khi tổng cầu có thể tăng ngay ngày hôm sau. Chinh sách tác động vào tổng cầu mạnh mẽ hơn rất nhiều là tác động vào tổng cung. Tương tự, khi chính phủ tăng lương cơ bản đợt vừa rồi có thể làm sản lượng giảm do chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng lên nhưng tác động sẽ không nhiều vì thời gian qua các doanh nghiệp cũng đã chủ động giảm tổng cung rồi vì tổng cầu giảm từ đầu năm.

Khi một chính phủ tập trung vào nhằm tăng năng lực quốc gia thông qua tăng tổng cung để từ đó tổng cầu tăng theo thì ta gọi đó là chính sách Trọng cung.

Mô hình tổng cung và mô hình tổng cầu rất hay, để hiểu rõ hơn ta có thể lấy ví dụ cho một doanh nghiệp:

Giả sử như năng lực của doanh nghiệp chỉ có thể đáp ứng doanh số 80 tỷ. Có nghĩa là khả năng vốn, số lượng chất lượng nhân sự, trình độ quản trị chỉ có thể đáp ứng được mức 80 tỷ. Khi đó doanh nghiệp sẽ có xu hướng xoay quanh doanh số 80 tỷ, tổng cung và tổng cầu giao nhau ở mức 80 tỷ. Tuy nhiên do nhiều yếu tố tác động mà tổng cầu tăng lên tới 100 tỷ, doanh nghiệp với năng lực của 80 tỷ cố gắng đáp ứng doanh số 100 tỷ, khi đó người ta gọi là phát triển nóng, 20 tỷ tăng thêm này doanh nghiệp sẽ phải trả giá cao hơn bình thường. Vì vậy ta có thể thắc mắc tại sao trung quốc một thời gian dài phát triển GDP ở 10%, người ta lại bảo là phát triển nóng, phát triển càng cao càng tốt chứ? Nhưng vì do việc phát triển vượt quá năng lực quốc gia nên họ sẽ phải trả giá rất cao bằng các bất ổn trong xã hội và môi trường sống.

Khi doanh số nhu cầu giảm dưới 80 tỷ thì doanh nghiệp với năng lực 80 tỷ sẽ làm việc dưới sức như vậy là lãng phí nguồn lực. Vì vậy khi một doanh nghiệp xây dựng tầm nhìn, chiến lược kinh doanh nó phải luôn đi đôi với việc chuẩn bị nguồn lực như chiến lược nguồn nhân lực, chiến lược vốn, năng lực quản trị…Phát triển nóng luôn trực chờ những hiểm họa không lường được.

Mô hình tổng cung tổng cầu (P2)

Hệ thống ngân hàng (P3)

Tỷ giá hối đoái (P4 của KTVM)

Lạm phát (P5)

Mô hình trọng cung (P6)

Tiền là gì ? (P1)

Tiền là gì ? (P2)

Tiền là gì ? (P3)

Tiền là gì? (P4)

Tài chính kế toán thường thức

Lợi thế cạnh tranh (P1)

Chuỗi giá trị (P2)

Mối liên kết trong chuỗi giá trị (P3)

Lợi thế chi phí (P4)

Lợi thế chi phí (P5)

Chuỗi giá trị của Khách hàng (P6)

Cạnh tranh bởi sự khác biệt

Lãi suất ngân hàng

Nghề nghiệp

Tại sao lại nên viết blog?

 
Để lại bình luận

Posted by on 16/05/2012 in Kiến thức

 

Thẻ:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s