RSS

Thang bậc nhu cầu của Maslow

13 Th7

Nguồn: giaovien.net
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn
(humanistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the
Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý
chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism).

Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng
của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực
khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục. Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs)
của con người. Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con
người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ
cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa
mãn trước.

Tổng quan về lý thuyết Thang bậc nhu cầu của Maslow (Maslow’s Hierarchy of Needs)

Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
– Nhu cầu cơ bản (basic needs)
– Nhu cầu về an toàn (safety needs)
– Nhu cầu về xã hội (social needs)
– Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)
– Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)

Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đã được Maslow hiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng là 8 bậc:
– Nhu cầu cơ bản (basic needs)
– Nhu cầu về an toàn (safety needs)
– Nhu cầu về xã hội (social needs)
– Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)
– Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs)
– Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs)
– Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)
– Sự siêu nghiệm (transcendence)

Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một
hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới.

Giải thích và phân tích

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ sử dụng phiên bản 5 bậc để phân tích và giải thích các hành động trong cuộc sống và giáo dục.

1. Nhu cầu cơ bản (basic needs):
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu
cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con
người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm
cho con người thoải mái,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất
của con người. Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này
được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất.

Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ
khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này
sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản
này chưa đạt được.

Ông bà ta cũng đã sớm nhận ra điều này khi cho rằng: “Có thực mới vực
được đạo”, cần phải được ăn uống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt
động, vươn tới nhu cầu cao hơn.

Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh,
đói khát hoặc bệnh tật, lúc ấy, các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu.

Image

Nguồn: tiki.oneworld.net

Sự phản đối của công nhân, nhân viên khi đồng lương không đủ nuôi sống
họ cũng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản cần phải được thực
hiện ưu tiên.

2. Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs):
Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này
không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì
tiếp theo? Khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích
hoạt. Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn
tinh thần.

Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy
hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp
khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú
dữ,…. Trẻ con thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt,
khóc đòi cha mẹ, mong muốn được vỗ về.

Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự
ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống
trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở,…Nhiều người tìm đến sự che
chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn
này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần.

Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành
tiết kiệm, …cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này.

* Thông qua việc nghiên cứu 2 cấp bậc nhu cầu trên chúng ta có thể thấy nhiều điều thú vị:

– Muốn kìm hãm hay chặn đứng sự phát triển của một người nào đó, cách
cơ bản nhất là tấn công vào các nhu cầu bậc thấp của họ. Nhiều người
làm việc chịu đựng các đòi hỏi vô lý, các bất công, vì họ sợ bị mất
việc làm, không có tiền nuôi bản thân và gia đình, họ muốn được yên
thân,…

– Muốn một người phát triển ở mức độ cao thì phải đáp ứng các nhu cầu
bậc thấp của họ trước: đồng lương tốt, chế độ đãi ngộ hợp lý, nhà cửa
ổn định,…Chẳng phải ông bà chúng ta đã nói: “An cư mới lạc nghiệp” hay
sao?

– Một đứa trẻ đói khát cùng cực thì không thể học tốt, một đứa trẻ bị
stress thì không thể học hành, một đứa trẻ bị sợ hãi, bị đe dọa thì
càng không thể học. Lúc này, các nhu cầu cơ bản, an toàn, an ninh được
kích hoạt và nó chiếm quyền ưu tiên so với các nhu cầu học hành. Các
nghiên cứu về não bộ cho thấy, trong các trường hợp bị sợ hãi, bị đe
doạ về mặt tinh thần và thể xác, não người tiết ra các hóa chất ngăn
cản các quá trình suy nghĩ, học tập.

3. Nhu cầu về xã hội (social needs):
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một
tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương
(needs of love). Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc
tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng
nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc
nhóm, …

Nhu cầu này là một dấu vết của bản chất sống theo bầy đàn của loài
người chúng ta từ buổi bình minh của nhân loại. Mặc dù, Maslow xếp nhu
cầu này sau 2 nhu cầu phía trên, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu
này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng
về tinh thần, thần kinh. Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, những
người sống độc thân thường hay mắc các bệnh về tiêu hóa, thần kinh, hô
hấp hơn những người sống với gia đình. Chúng ta cũng biết rõ rằng: sự
cô đơn có thể dễ dàng giết chết con người. Nhiều em ở độ tuổi mới lớn
đã lựa chọn con đường từ bỏ thế giới này với lý do: “Những người xung
quanh, không có ai hiểu con!”.

Để đáp ứng cấp bậc nhu cầu thứ 3 này, nhiều công ty đã tổ chức cho các
nhân viên có các buổi cắm trại ngoài trời, cùng chơi chung các trò chơi
tập thể, nhà trường áp dụng các phương pháp làm việc theo nhóm, các
phương pháp giảng dạy dựa trên vấn đề, các tổ chức Đoàn, Đội trong nhà
trường được giao trách nhiệm tập hợp các em, định hướng các em vào
những hoạt động bổ ích. Các kết quả cho thấy: các hoạt động chung, hoạt
động ngoài trời đem lại kết quả tốt cho tinh thần và hiệu suất cho công
việc được nâng cao.

Kinh nghiệm giảng dạy của nhiều giáo viên cũng đưa đến kết luận: phần
lớn các em học sinh sống trong các gia đình hay bất hòa, vợ chồng lục
đục, thiếu quan tâm, tình thương của gia đình thường có kết quả học tập
không cao như các em học sinh khác.

4. Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs):
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó
thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua
các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản
thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của
bản thân. Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa
trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn.

Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người được
khích lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng làm
việc hăng say hơn, hiệu quả hơn. Nhu cầu này được xếp sau nhu cầu
“thuộc về một tổ chức”, nhu cầu xã hội phía trên. Sau khi đã gia nhập
một tổ chức, một đội nhóm, chúng ta luôn muốn được mọi người trong nhóm
nể trọng, quý mến, đồng thời chúng ta cũng phấn đấu để cảm thấy mình có
“vị trí” trong nhóm đó.

Image

Nguồn: buddhism.kalachakranet.org

Kinh nghiệm giáo dục cũng chỉ ra rằng: các hành động bêu xấu học sinh
trước lớp, cho các học sinh khác “lêu lêu” một em học sinh bị phạm
lỗi,… chỉ dẫn đến những hậu quả tồi tệ hơn về mặt giáo dục, tâm lý.

Nhà sư phạm lỗi lạc Makarenko trong suốt cuộc đời
dạy dỗ trẻ em hư, khi được hỏi bí quyết nào để sửa trị các em, ông nói
“Tôi chỉ đúc kết trong một công thức ngắn gọn: Tôn trọng và yêu cầu
cao”. Bản chất tâm lý con người ai cũng muốn được tôn trọng, chạm đến
lòng tự trọng là chạm đến điều sâu và đau nhất, là điểm tử huyệt nhất
của con người (cho dù đó là đứa trẻ khó dạy, chưa ngoan).
Chỉ tôn trọng mà không yêu cầu là không ổn. Khi được tôn trọng là đã
cho con người ở đúng vị trí “Người” nhất của mình. Do vậy, cần có trách
nhiệm buộc phải sống và hành xử đúng đắn với sự tôn trọng đó.””

( Trích VietNamNet, ngày 30/10/2007)

5. Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs):
Khi nghe về nhu cầu này: “thể hiện mình
chúng ta khoan vội gán cho nó ý nghĩa tiêu cực. Không phải ngẫu nhiên
mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất. “Thể hiện mình” không
đơn giản có nghĩa là nhuộm tóc lòe lẹt, hút thuốc phì phèo, “xổ nho”
khắp nơi, nói năng khệnh khạng, …

Maslow mô tả nhu cầu này như sau: “self-actualization as a person’s need to be and do that which the person was “born to do”
(nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những
cái mà mình “sinh ra để làm”). Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là
nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định
mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội.

Chúng ta có thể thấy nhiều người xung quanh mình, khi đã đi đến đoạn
cuối của sự nghiệp thì lại luôn hối tiếc vì mình đã không được làm việc
đúng như khả năng, mong ước của mình. Hoặc có nhiều trường hợp, một
người đang giữ một vị trí lương cao trong một công ty, lại vẫn dứt áo
ra đi vì muốn thực hiện các công việc mà mình mong muốn, cái công việc
mà Maslow đã nói “born to do”. Đó chính là việc đi tìm kiếm các cách
thức mà năng lực, trí tuệ, khả năng của mình được phát huy và mình cảm
thấy hài lòng về nó.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây trên báo VietNamNet, diễn viên Quyền Linh đã trả lời câu hỏi của người phỏng vấn như sau:

PV: Nếu hiện tại có một lời mời đóng phim
nhưng cát-sê không tương xứng với thời gian công sức anh sẽ phải bỏ ra
thì anh có nhận không?

DV Quyền Linh: Bù lại nếu vai diễn đó hay
thì thậm chí chỉ cần nuôi cơm, không cần tiền tôi cũng đóng. Từ trước
đến nay đóng phim đâu có dư tiền, tôi biết điều đó mà. Nhưng hãy cho
tôi một vai diễn, một cơ hội và một sự tôn trọng..

(Trích VietNamNet, ngày 27/11/2007)

Nhu cầu này cũng chính là mục tiêu cao nhất mà giáo dục hiện đại nhắm đến. Trong báo cáo của Unesco Learning: the Treasure Within, vấn đề học tập đã được mô tả qua 4 trụ cột của giáo dục (The Four Pillars of Education):

Learning to know: Học để biết.
Learning to do: Học để làm.
Learning to live together: Học để chung sống.
Learning to be: Học để tự khẳng định mình.

Kết luận

Thông qua lý thuyết về Thang bậc nhu cầu được đề
xướng bởi nhà tâm lý học Abraham Maslow, mỗi người trong chúng ta có
thể rút ra nhiều điều thú vị về những nhu cầu, giá trị trong cuộc sống,
tìm hiểu các khó khăn mà học sinh gặp phải, các phương thức cần thiết
để giáo dục hiệu quả.

Cũng giống như bao lý thuyết khác, lý thuyết này dĩ nhiên không phải là
một sự tuyệt đối hóa và toàn vẹn, nó cũng nhận được nhiều ý kiến trái
ngược và phản bác. Tuy nhiên, hơn 60 năm qua, lý thuyết vẫn được nhắc
đến và sử dụng rộng rãi.

Advertisements
 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s