RSS

Jiu Jitsu Martial arts

28 Dec

    
– Vào thời đại phong kiến, nhiều ngành võ thuật chiến đấu thịnh hành trong giới Samurai ở Nhật, chẳng hạn Cung đạo, Kiếm đạo, thuật cưỡi ngựa, cách dùng giáo mác và những món binh khí khác. Những ngành võ thuật này không nhiều thì ít cũng đã quen thuộc đối với các nước Tây phương, được người Tây phương tập luyện và sử dụng rất tinh phục, tuy rằng phương pháp và hình thức không giống hẳn ở Nhật. Nhưng sự khéo léo đặc biệt đạt thắng lợi bằng cách khuất phục trước sức mạnh của địch thủ thì thật là môn võ đặc thù của Nhật Bản, không hề có một môn võ nào tương tự như thế ở Tây phương được biết đến, hay ít nhất được người ta tập luyện và sử dụng.
Dù người ta có để ý khảo cứu các ngành võ thuật thời xưa ở Âu Châu và tìm một điểm tương đồng với môn Jujitsu Nhật Bản, cũng không thể nào tìm thấy.

– Có người nói rằng môn đánh vật có thể đem so sánh với môn Jujitsu, nhưng hai môn thật ra khác nhau một trời một vực ; môn đánh vật nhắm chiến thắng địch thủ bằng sức mạnh của chính mình trong khi Jujitsu chiến thắng bằng cách khuất phục trước sức mạnh của địch thủ. Thật vậy, chữ Jujitsu có nghĩa là Nhu thuật, dùng sự khéo léo, uyển chuyển, dịu dàng của cơ thể để chế ngự sức mạnh. Jujitsu là cái tên được biết nhiều nhất ở Nhật để nói đến môn võ ấy, tuy nhiên những tên khác như Yawura, Taijitsu, Hakuda, Kogusoku, Torite và bao nhiêu tên khác đôi khi cũng được dùng để chỉ những ngành võ thuật tương tự.

KHÔNG PHẢI VÕ TRUNG HOA

Mặc dù nguồn gốc đích thực của môn Jujistu không rõ ràng, và không có một ngày tháng nào nhất định được chứng minh là ngày đầu tiên xuất hiện của môn võ, nhưng chắc chắn đó là một môn võ thuần túy Nhật Bản và hoàn toàn không có chuyện xuất phát từ Trung Hoa như một số người đã tưởng.

– Biết bao nhiêu người, ngay cả một vài người thận trọng, cũng đã cho rằng một nhà sư Trung Hoa, tên là Trần Nguyên Tán, mang môn Kempo, môn “đá và đánh” tới Nhật Bản dạy cho ba chàng Hiệp sĩ lang thang tên là Fukuno, Isogai, và Miura. Những người này, sau khi chính mình nghiên cứu kỹ lưỡng, lập ra ba chi phái Jujitsu độc lập với nhau. Thật ra, cũng có nhà sư Trung Hoa nói trên trốn thoát những hỗn loạn xảy ra vào cuối triều Minh bên Trung Hoa đã đến Nhật khoảng năm 1659 (năm thứ hai đời Manji), năm triều đại này kết thúc. Trần Nguyên Tán nổi tiếng mấy năm ở tỉnh Owari nơi ông thường làm thơ với một nhà thơ người Nhật, rồi qua đời năm 1671 (năm thứ 11 đời Kanbun), cùng trong tỉnh đó. Mộ thạch của ông nằm trong nghĩa địa Kenchuj tại Nagoya. Không có gì chắc chắn là ông biết ít nhiều về môn Kempo và kích thích sự tiến bộ của môn Jujitsu Nhật Bản. Lại càng hoàn toàn không thể tin được rằng ông là người đầu tiên đem môn Jujitsu vào Nhật Bản, bởi vì môn Kempo của Trung Hoa, được người ta nói là do ông du nhập, hoàn toàn khác biệt

với môn Jujitsu Nhật Bản và bởi vì một vài môn giống môn Jujitsu có thể tìm thấy ở Nhật trước thời Trần Nguyên Tán. Hơn nữa, có thể vì nền văn minh Trung Hoa lúc bấy giờ được ưa chuộng như nền văn minh Tây phương ngày nay, cho nên nguồn gốc của môn Jujitsu được gán cho Trung Hoa với mục đích dễ phổ biến trong quần chúng. Ta có thể thấy nhiều trường hợp tương tự trong những môn võ và những sáng tạo khác cũng bị gán cho cái nguồn gốc Trung Hoa, mặc dù chúng hoàn toàn của Nhật Bản trong sự phát sinh cùng phát triển.
  

– Các sách vở có liên quan đến lịch sử môn Jujitsu rất hiếm và không xác thực. Mặc dầu có nhiều bản thảo của các chi phái khác nhau của môn võ, chúng bị các võ sư dấu kín và chỉ cho các môn sinh có trình độ đặc biệt cao xem mà thôi với lời thề sẽ không bao giờ tiết lộ những điều ghi chép trong đó. Những thủ bản ấy không giá trị lắm như người ta thường tưởng, bởi vì chúng thường mâu thuẫn nhau và nhiều khi lố bịch nữa dù rằng khảo cứu chúng kỹ lưỡng đem lại rất nhiều thích thú và làm sáng tỏ phần nào lịch sử môn võ.
Hiện giờ, người ta không thể kể hết các chi phái (Ryu) của môn Jujitsu, và chỉ có thể đề cập đến một ít chi phái được coi là siêu việt nhất. Trong số một trăm chi phái ra đời, phái cổ nhất là Taken Ouchi Riu, có người nói rằng do Takenou Hisamori, một người ở Sakushu, sáng lập năm 1532 (năm đầu triều đại Tenbun). Mặc dù con số này không đáng tin cậy lắm và mặc dù chi phái này dạy môn Kogusoku, hay là thuật dùng tay bắt lấy địch thủ, có đôi phần khác biệt với môn Jujitsu thuần chất, người ta cũng không thể nghi ngờ về điểm nó được thiết lập một thời gian trước khi Trần Nguyên Tán đến Nhật và nó có thể được xem như chi phái đầu tiên dạy một môn võ tương tự môn Jujitsu.

Tiếp đến là một chi phái gọi là Kito-Ryu, do ông Fukuno Shichiro-Emon, quê quán ở Tamba, sáng lập vào khoảng giữa thế kỷ 17 (Kanyei). Liên quan mật thiết với chi phái này là chi phái Jikishin Ryu, sáng Tổ là ông Terada Kan Emon, quê ở Unshu, người đồng thời với Fukuno. Có nhiều mâu thuẫn về sự liên hệ giữa hai người này.

– Một vài bản thảo viết rằng Fukuno là sư phụ của Terada, trong khi những tài liệu khác bảo ngược lại. Mặc dù không thể quyết định về điểm mâu thuẫn này, chúng ta cũng có thể quả quyết rằng cả hai người, Fukuno và Terada, sống vào giữa thế kỷ 17, có liên hệ mật thiết với nhau, và đã lập ra hai chi phái Jujitsu khác biệt, mấy năm trước thời Trần Nguyên Tán. Có thể họ đã thấy và nghe nhà sư này, và nhờ đó biết ít nhiều về môn Kempo của Trung Hoa. Dù sao đi nữa, hai phái này vẫn được coi là những chi phái cổ nhất của môn Jujitsu chính thống. Chi phái Kiushin Ryu được thiết lập bởi Inugami
Nagakatsu, quê ở Omi. Mặc dù thời gian sáng lập của nó không mấy chắc chắn, nhưng có một vài lý do khiến ta tin rằng chi phái ấy lại là một nhánh của chi phái Kito Ryu nói trên. Inugami Gunpei, cháu của vị sáng Tổ, công phu trác tuyệt đến nỗi ông thường được xem là vị sáng Tổ đích thực của môn phái này. Chi phái Sekiguchi Ryu, do Sekiguchi Jushin thiết lập, và chi phái Shibukawa Ryu, do Shibukawa Bangoro, là hai chi phái nổi tiếng khác. Hai chi phái cũng có liên hệ với nhau vì vị sáng Tổ của hai phái sau thụ giáo người con của vị sáng Tổ hai phái trước. Đời thứ chín của chi phái này và đời thứ tám của chi phái kia hiện nay dạy Jujitsu tại Đông Kinh.
  
Chi phái Yoshin Ryu hay Miura Ryu và chi phái Tenjin Shinyo Ryu cũng là những chi phái tuyệt luân. Đây là hai chi phái phổ thông nhất nước Nhật, được truyền bá rộng rãi khắp xứ, bởi vì phương pháp truyền dạy của họ rất đơn giản và bình dân, và bởi vì hai nhân vật nổi tiếng nhất thuộc hai chi phái này sinh trưởng tại Đông Kinh cùng lúc với cuộc Cách mạng cuối cùng, trong khi những chi phái khác ẩn dật trong vòng mấy tỉnh, mặc dầu những điều họ đem ra truyền dạy rất hay. Totsuko Hikosuke, thuộc chi phái Yoshin Ryu, là một trong những khuôn mặt nổi danh nhất có liên hệ đến môn Jujitsu.

– Một bậc thầy danh tiếng khác quen thuộc nhất và được thế hệ hiện tại nhớ đến nhất là ông Iso Mata-Emon. Đầu tiên, ông thụ giáo cho phái Yoshin Ryu và thiết lập chi phái độc lập Tanjin Shinyo Ryu tại Otamagaike, Đông Kinh. Danh tiếng của ông vang dội khắp xứ và ông được xem là người tài giỏi nhất môn phái đã được đào tạo từ trước đến giờ. Có điều lạ lùng là hầu hết những chi phái này không phát sinh từ phía đông cũng như phía tây, mà là từ trung phần Nhật Bản…
– Các đòn thế của môn Jujitsu nói chung thường rất hiểm ác, những đòn tấn công hoặc phản công quyết nhắm đến việc giết địch thủ trong nháy mắc, hoặc làm gãy tay, gãy chân, đui mù, á khẩu, tê liệt tàn phế cả cuộc đời. Một số các đòn của Jujitsu thật ra cũng bắt nguồn từ các môn quyền thuật Trung Hoa, Thiếu Lâm, Võ Đang và Thái CựcQuyền.

– Jujitsu – Nhu thuật – gồm những loại đòn ném, vật, khóa chân, khóa tay, khóa cổ, siết họng và các đòn về quan tiết (các khớp xương).

Tất cả những đòn này đều căn cứ trên hai nguyên lý sau đây:

1. Nhượng bộ sức mạnh để thắng sức mạnh bằng cách lợi dụng đòn của đối phương.

2. Tạo cho địch cái thế mất thăng bằng để quật ngã địch.
  

ĐÁNH VÀO CÁC QUAN TIẾT
Quan tiết là các khớp xương. Những nơi có hai khớp xương nối vào nhau. Cũng như Thái Cực Quyền của Trung hoa và môn Aikido (Hiệp Khí Đạo) của Nhật bản, môn Jujitsu cũng chú trọng đến các loại đòn này. Trong thân thể con người, những chỗ “yếu” nhất là các ngón tay, cổ, hai bàn chân, các khớp xương cánh chỏ, vai và đầu gối. Đánh vào quan tiết tức là vặn, bẻ những khớp xương yếu nhất trong thân người. Vì vậy, một thiếu nữ yếu đuối cũng có thể chế ngự được một lực sĩ hay một tên lưu manh cường bạo, nếu thiếu nữ biết cách vặn một bàn tay, bẻ một ngón tay chẳng hạn. Môn Jujitsu nghiên cứu môn đánh vào các quan tiết một cách rất tinh vi. Sau có một võ sĩ vạch hẳn phương pháp vặn bẻ các khớp xương ra làm một môn phái, một kỹ thuật chiến đấu dành riêng cho kẻ yếu đuối học tập để tự vệ chống lại cường lực, gọi là Yamara.

CẦM NÃ THỦ

Một “ngón nghề” khác của phái Jujitsu là môn cầm nã thủ. Cầm là bắt, giữ. Nã là bấm, cấu, véo.

Những chỗ nhược có thể bấm, cấu, véo được là bắp thịt con chuột ở cánh tay, chỗ lắc léo giữa cánh chỏ. Lưng bàn tay cũng có thể nã được một cách hiệu quả. Các võ sĩ muốn sử dụng môn cầm nã phải luyện các ngón tay cho thật sắt thép, bằng phương pháp gọi là phục hổ công : dùng năm đầu ngón tay và đầu ngón chân chịu đựng toàn thân, nằm úp trên mặt đất, hai cánh tay co lại, dãn ra theo thế hít đất, ngày nào cũng luyện như thế. Lâu ngày, các đầu ngón tay sẽ có đủ gân lực và cứng cáp để áp dụng môn cầm nã.
  

– HẬU THÂN CỦA JUJITSU
Như trên đã nói, có biết bao chi phái Jujitsu lớn mạnh vào thời đại phong kiến, nhất là vào thời Iyemitsu, vị thứ ba và mạnh nhất trong các vị Tướng quân Tokugawa. Môn võ tiếp tục bành trướng trong các tỉnh. Cho đến hậu bán thế kỷ 19, nó bắt đầu suy yếu đôi chút với sự sụp đổ sắp đến của chế độ phong kiến. Mặc dù có lần môn võ đã được phục hồi và có ảnh hưởng sâu xa đối với tinh thần quốc gia của người Nhật, nó dần dần bị người đời xao lãng.
Một người theo Tây học, ông Jigoro Kano, vốn xuất thân từ trường Đại học Đông Kinh đã đứng ra tiếp nối sự nghiệp của các vị tiền nhân. Ban đầu, ông theo học phái Tenjin Shiyo Ryu, sau đó, phái Kito Ryu. Sau khi đã trở nên bậc thầy trong các chi phái này, ông tìm tòi nghiên cứu, so sánh và học hỏi thêm mọi chi phái khác và cuối cùng sáng lập ra một chi phái mới gọi là Kano Ryu, hay là môn Judo Kodokan. Chữ Judo (Nhu đạo) thật ra không phải là một chữ mới. Nó đã được một trong các chi phái cổ dùng rồi. Chi phái Kano dùng danh từ này thay vì chữ Jujitsu bởi vì nó được học hỏi không chỉ như là một sự tập luyện thể xác, mà còn là một phương pháp rèn luyện đạo đức và trí tuệ. Vị sáng Tổ Jigono Kano vì muốn biến môn Jujitsu thành một môn thể dục có tính cách đại chúng và dân tộc nên đã gạt bỏ nhiều đòn nguy hiểm trong Jujitsu.

Ngày nay môn Judo lan tràn khắp thế giới, không đâu không có võ đường, không xa xôi hẻo lánh nào không có những môn sinh tận tụy của môn phái.

– Tuy nhiên trên phương diện tự vệ và chiến đấu, môn Judo chưa hẳn thật sự có giá trị bằng môn Jujitsu, vì môn Jujitsu vẫn giữ nguyên toàn bộ sự hiệu quả của nó, còn môn Judo đã trở thành một môn thể thao biểu diễn, bị hạn chế bởi các qui luật chặt chẽ.

Vì vậy mà trong quân đội cảnh sát các nước, người ta dạy Jujitsu chứ không hẳn là Judo. Lẽ tất nhiên, những ai muốn học võ để tự vệ và chiến đấu cần phải biết Jujitsu có cả vừa Judo, vừa Karate (Không thủ đạo), vừa Aikido (Hiệp khí đạo) và cả môn điểm huyệt nữa. Biết và thành thạo Jujitsu, bạn có thể áp dụng trong mọi trường hợp tự vệ nguy cấp, dù chiến đấu với một hay đông người, đồng thời Jujitsu còn là một môn thể dục đầy đủ hơn tất cả các môn võ khác, vì Jujitsu gồm đủ tinh hoa của tất cả các võ phái Đông phương vậy.

  

 
Để lại bình luận

Posted by on 28/12/2008 in Sở thích

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s