RSS

My First Marathon

My First Marathon

DSC01933

see more: http://chienluocsong.com/race-long-bien-marathon-42km-dau-tien/

 

 
Hình ảnh

Về chuyển blog sang địa chỉ mới ( http://nguyenvietdung.com)

Về chuyển blog sang địa chỉ mới ( http://nguyenvietdung.com)

Blog này của Nguyễn Việt Dũng (Dungiso) đã được chuyển sang địa chỉ http://chienluocsong.com/ (http://nguyenvietdung.com) kể từ tháng 6/2013

DSC_0344

Bài viết năm 2013

Bài viết năm 2012

Bài viết năm 2011

Bài viết năm 2010

Bài viết năm 2009

Trước năm 2008

 
 

Tình hình kinh tế 2013 (từ một hội thảo)


Entry này được viết dựa trên cảm hứng từ Hội thảo dòng tiền ngày 20/5/2013.

Chúng ta đang gặp phải hai vấn đề:

Thứ nhất: Tình hình kinh tế suy giảm kéo dài quá lâu kể từ 2008 cho tới nay 2013 đã sang năm thứ sáu khiến cho tình hình cả người cho vay là Ngân hàng lẫn doanh nghiệp là người vay ngày càng kiệt sức. Chưa rõ ràng nền kinh tế đã tới đáy chưa, có thể là cuối năm 2013 và cũng có thể là sang 2014.

Kinh te VN

Thứ hai: Số liệu của chúng ta không chính xác nên rất khó điều khiển nền kinh tế. Chính phủ điều tiết nền kinh tế thông qua Chính sách tiền tệ và Chính sách tài khóa. Bản thân hai chính sách này đã có độ trễ tới 5 tháng, giờ những chính sách đó lại dựa trên các số liệu không chính xác thì càng khó.

Kiểu này giống như việc lái xe. Chính phủ có cần ga là chính sách tài khóa có phanh xe là chính sách tiền tệ. Biết rằng mỗi lần nhấn cần ga hay cần phanh thì 5 phút sau mới có tác động tới xe. Giờ cái ông ấn ga, phanh và cái ông nhìn đường là hai ông khác nhau. Ông nhìn la lên ” ở phía trước có chướng ngại vật phanh đi”, ông chính phủ tính toán xem ấn vào lúc nào để đền đúng cái chướng ngại vật đó thì dừng lại.

Cái ông nhìn đường nói chính xác thì điều khiển xe đã là khó rồi, ông ý giờ lại còn nhìn sai nữa thì làm sao mà tính toán điều chỉnh chính sách vĩ mô cho ổn.Kinh tế khó khăn như vậy mà ông chính phủ vẫn báo cáo là đã giảm nghèo, đời sống nhân dân được từng bước nâng cao thì bố ai mà điều hành cho nổi.

Ngay cả bây giờ chính phủ có dự trữ ngoại tệ bao nhiêu, nợ nước ngoài bao nhiêu tiền, tỷ lệ nghèo, cách tính GDP thì bản thân chính phủ cũng không biết. Thực sự là họ không biết chứ không phải là họ biết mà giấu. Số liệu thì được tập hợp từ các địa phương, các địa phương thì báo cáo theo ý muốn của chính phủ nên các số liệu thu chi, diện tích gieo trồng lúa, dân số, GDP,…. thậm chí cả tình hình tai nạn giao thông nói chung chẳng có số nào chính xác.

Những tháng đầu năm số liệu cho thấy lạm phát giảm mặc dù cung tiền vẫn tăng cho thấy nguyên nhân xuất phát từ tổng cầu suy giảm. Mà tổng cầu suy giảm cũng bắt nguồn từ thu nhập người tiêu dùng giảm.

vimo 2013

Tín dụng tăng 1,4% chứng tỏ nền kinh tế yếu không hấp thụ nổi vốn. Nó kiểu như là ngân hàng thì mời chào cho vay nhưng một là doanh nghiệp có nợ xấu không vay được, hai là doanh nghiệp cũng không có hướng kinh doanh nào khả thi để mà vay NH.

Tin dung 2013

Năm 2013 chúng ta sẽ còn phải chào đón một năm hạn nặng. Có hai vấn đề liên quan tới nước đó là Thủy điện và Thủy lợi. Ngay từ đầu năm đã có vụ hai ông cãi nhau, ông thủy điện thì muốn giữ nước, ông thủy lợi thì muốn xả nước để trồng lúa.

Năm 2013 chăn nuôi từ đầu năm cũng gặp vấn đề khi gà rẻ từ trung quốc tràn sang khiến cho người chăn nuôi gà chẳng có cửa nào để sản xuất. Như vậy cả trồng trọt và chăn nuôi chúng ta sẽ đều gặp khó khăn.

Về hai cục máu đông:

Chúng ta có hai cục máu đông là nợ xấu ngân hàng và hàng tồn kho. Nợ xấu ngân hàng theo đánh giá thì cũng do chính phủ. Hiện chính phủ còn nợ doanh nghiệp gần 100.000 tỷ, doanh nghiệp thì đa phần là làm trước trả tiền sau. Mà làm trước thì phải vay ngân hàng mới có tiền, khi chính phủ không thanh toán thì hình thành nên cục nợ xấu.

Cục máu hàng tồn kho thì với niềm tin tiêu dùng của người dân đang có chiều hướng suy giảm như hiện nay thì cũng chưa có cửa gì cả:

niem tin

Túm lại năm 2013 chẳng có dấu hiệu gì khởi sắc. Tình hình nói chung vẫn ảm đạm. Bất động sản có thể động đậy tí với gói cứu trợ còn thì mọi thứ đều đi xuống.

 

Nhãn:

Chiến lược đầu tư P7 (Thị trường ngoại hối)


Thị trường ngoại hối là nơi người ta mua bán tiền. Chúng ta có thể kinh doanh tiền, cách thức cơ bản như sau:

1. Dùng đồng tiền yếu mua đồng tiền mạnh: giả định về tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền thay đổi lớn hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi

B1: Tôi vay 100 VNĐ với lãi suất 1% tháng

B2: Tôi mua USD với tỷ giá 20đ/usd được 5 USD.

B3: 1 tháng sau USD tăng giá lên 22đ/usd (cũng có nghĩa là VNĐ mất giá đi 10%.)

B4: Tôi bán 5 USD đi thu về 110 VNĐ.

B5: Tôi trả ngân hàng 101 đ và có trong tay 9 đ. 9 đ này chính là lãi.

Cách này ta sử dụng khi ta giả định là một đồng tiền nào đó đang được định giá cao hơn giá trị thực và có xu thế sẽ được điều chỉnh trong tương lai.

2. Chênh lệch lãi suất: Giả định lãi suất tiền gửi giữa các nước lớn hơn sự thay đổi của tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền của hai nước đó

VD với lãi suất tiền gửi USD ở VN là 0,3 %/ tháng; ở Mỹ là 0,01%/ tháng

B1: Tôi có người thân ở Mỹ. Họ vay 5 USD với lãi suất 0,1% năm

B2: họ chuyển về cho tôi dưới dạng kiều hối

B3: tôi gửi USD đó vào ngân hàng để ăn lãi chênh lệch 2,9% năm. Hoặc

– Tôi bán 5 USD đó ở thị trường chợ đen để thu về 100 đ. Tôi gửi 100 đ đó vào NH trong 1 năm với lãi suất 8%/năm. Sau 1 năm tôi được 108 đ và dùng nó để mua được  5,4 USD

B4: Tôi trả cho người thân 5,01 USD và ăn lãi 3,9 USD.

Ở đây chúng ta sẽ thấy rằng vốn vay ODA là lãi suất thấp với ta chứ vẫn cao so với bên cho vay. Nhiều nước lãi suất tiền gửi còn về tới 0%.

3. Tăng giá của tài sản: giả định rằng sự tăng giá của tài sản có tốc độ cao hơn lãi suất tiền gửi.

B1: Tôi vay ngân hàng 100 đ và mua một ngôi nhà, dùng chính ngôi nhà đó để làm thế chấp với lãi suất 2%/ tháng

B2: Sau 1 tháng, ngôi nhà đó tăng giá lên 120 đ. Tôi bán ngôi nhà đó lấy 120đ, trả 102 đ cho ngân hàng tôi thu lãi 18 đ.

Tương tự với các tài sản khác như vàng, cổ phiếu…

Cách thức này sử dụng phổ biến trong giai đoạn nhà đất bị thổi bong bóng. Có những nhà đầu tư đã tay không bắt giặc nhưng cũng có những nhà đầu tư ngồi trên đống nợ khi mua tại thời điểm giá cao và bán ở thời điểm giá thấp.

Tất nhiên cách này sẽ gặp rủi ro về tăng tỷ giá vì bản thân trong nước VN thì lãi gửi VNĐ là 8% và gửi USD chỉ có 2%; độ chênh 6% này chính là kỳ vọng mất giá của VNĐ trước USD. Cũng tương tự như cách 1 sẽ gặp rủi do là Tỷ giá không tăng.

Giá trị của một  đồng tiền này so với một đồng tiền khác phụ thuộc rất lớn vào cán cân thanh toán của một quốc gia. VNĐ mất giá trước USD đơn giản là do cung tiền VNĐ tăng nhanh hơn khả năng cung USD. Chúng ta nghiên cứu về dòng chảy của đồng tiền để hiểu hơn:

Tiền giấy là phương tiện trao đổi giúp cho việc trao đổi hàng hóa được dễ dàng hơn. Người ta chỉ tích vàng chứ không ai tích tiền giấy, tiền giấy không bao giờ ở trong két trừ khi người ta biết rằng sức mua của nó sẽ tăng lên chứ không phải giảm đi.

Vì vậy tiền bắt đầu từ một nơi qua tay người này tới tay người khác và cuối cùng quay về nơi nó được tạo ra.

Đồng tiền nói chung là sẽ giảm sức mua theo thời gian bởi lạm phát do cung tiền.

1. Cung tiền

Các định nghĩa về tiền ta đã bàn tới. Tiền bao gồm tiền vật chất và tiền phi vật chất. Tiền phi vật chất là tiền chỉ là các con số trên sổ sách. Tổng tiền M2 luôn lớn hơn rất nhiều so với M0.

cung tien

2. Đường đi của tiền

Sơ đồ dưới là tóm tắt đường đi của tiền. Màu xanh là tiền USD; màu đỏ là VNĐ

dong tien dungiso

Lược đồ này loại bỏ các khâu trung gian như các công ty thương mại, các siêu thị, cửa hàng bán lẻ, đơn vị nhập khẩu, đơn vị xuất khẩu.

Đầu tiên xuất phát từ nơi tạo ra hàng hóa là một công ty sản xuất. Công ty này dùng VNĐ để trả tiền mua nguyên vật liệu, trả lương, trả cổ tức. Khi có hàng hóa, DN này một phần xuất khẩu để thu về USD và một phần bán trong nước thu về VNĐ.

DN phải trả ở đầu vào là VNĐ nên DN sẽ bán USD thu được từ hàng xuất khẩu cho NHTM để chuyển sang VNĐ. NHTM khi có được USD một phần sẽ bán cho công ty nhập khẩu để thu về VNĐ. Một phần sẽ bán cho NHTW để thu về VNĐ.

NHTW mua USD nhờ vậy cấp bù số VNĐ bị thiếu hụt của NHTM do dùng VNĐ mua USD.

NHTW lấy đâu ra VNĐ để mua USD?:

– Một phần là do NHTW bán USD cho NHTM để thu về VNĐ

– Bán trái phiếu chính phủ để thu về VNĐ

– In VNĐ.

Đối với VN thì do tổng vào ít hơn tổng ra (nhập siêu) nên chúng ta luôn phải đối mặt với thiếu hụt USD khiến cho chúng ta luôn phải đối mặt với việc tăng tỷ giá, hay VNĐ mất giá so với USD.

Đối với TQ do tổng vào lớn hơn tổng ra nên TQ có thể in thêm nhiều Nhân dân tệ để không làm tăng giá nhân dân tệ trước USD. Ngược lại với VN thì luôn lo VNĐ mất giá, Trung quốc luôn lo Nhân dân tệ tăng giá vì nếu tăng giá sẽ không có lợi cho xuất khẩu. (tham khảo entry Tiền P4)

Người lao động trong sơ đồ này đi làm kiếm tiền lương và tiêu dùng vào hàng hóa, số còn lại gửi tiết kiệm. Lạm phát thì làm giảm sức mua đồng tiền mà giảm phát thì lại giảm lương. Vì vậy người dân cơ bản là kiểu gì cũng thiệt.

Nếu như giá trị của đồng tiền này so với một đồng tiền khác phụ thuộc vào cung cầu thì so sánh giữa nhiều đồng tiền với nhau như thế nào? Rất đơn giản, muốn so sánh giá trị các loại tiền với nhau ta phải cùng so sánh nó với một tài sản cố định. Thông thường trung gian để mang ra để so sánh chính là vàng.

(Entry sau: Cung cầu vàng)

 

Nhãn: , ,

Chiến lược đầu tư P6 (kịch bản của phá sản)


Trong entry trước ta thấy các nước trên thế giới hầu hết đều đang theo chính sách tài khóa thâm hụt và họ gần như không thể dừng việc vay nợ được nữa. Câu hỏi là thế cả thế giới là con nợ thì ai là chủ nợ? Câu trả lời: các nước nợ lẫn nhau.

Ví dụ điển hình là Mỹ và Trung quốc:

Bảng dưới là phân tích cán cân thương mại giữa Mỹ với Trung quốc.

trade

Trước đây Mỹ là nước xuất khẩu lớn nhưng kể từ khi Trung quốc trở thành công xưởng của thế giới thì mọi chuyện đã khác đi. Cán cần thương mại của Mỹ và Trung quốc từ thặng dư chuyển sang thâm hụt. Năm 2011 thâm hụt là 273 tỷ. Năm 2013 dự kiến thâm hụt là 315 tỷ.

Giả sử như năm 2013 con số là 315 tỷ đô, như vậy có 315 tỷ đô sẽ đổ vào Trung quốc. Trung quốc sẽ phải làm  ba động tác:

1. Để không làm tăng giá nhân dân dân tệ ảnh hưởng tới xuất khẩu, Trung quốc sẽ phải cung cấp ra thị trường một lượng nhân dân tệ đúng bằng lượng đô này để mua đô từ doanh nghiệp. (Thông qua mua trái phiếu bằng tiền vật chất in ra)

2. NHTW trung quốc bán USD này cho những nhà nhập khẩu để nhập khẩu hàng hóa. Số dư thừa thì để tăng dự trữ ngoại tệ, mua vàng và đặc biệt phần lớn là mua trái phiếu chính phủ Mỹ. Khi Trung quốc mua Trái phiếu chính phủ Mỹ thì dòng tiền lại quay ngược lại Mỹ kết thúc một vòng và Mỹ lại nợ thêm trung quốc đúng bằng số tiền trái phiếu đó.

3. Sau khi tiền USD ra khỏi lãnh thổ TQ, để không làm tăng lạm phát trong nước, TQ sẽ phải hút tiền nhân dân tệ về thông qua bán trái phiếu chính phủ TQ trong nội địa. Sau một thời gian đồng tệ và đô lại cân đối với nhau.

Năm 2007 chính vì Chính phủ Thái Lan không hút tiền về tại bước 3 mà khiến cho đồng bạt mất giá. Khi các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại, họ không đầu tư nữa, rút usd về. Đồng bạt lại càng mất giá vì số lượng tiền bạt vẫn vậy mà USD lại đang bị hút ra. Cuối cùng là sự đổ vỡ hàng lọat của các nước châu á khác với kịch bản tương tự.

Ngay cả với vị trí là công xưởng của thế giới thì Trung quốc cũng vẫn là một con nợ lớn với số nợ là 1.409 tỷ đô. Cán cân thương mại giữa hai nước bất kỳ đều ở trạng thái mất cân bằng vì vậy cả thế giới này nợ lẫn nhau và cùng dẫn nhau vào mớ bòng bong chẳng biết gỡ ra ở chỗ nào.

Giờ quay lại vấn đề của chúng ta, đa phần chúng ta sẽ quan tâm khi giờ G đến thì điều gì sẽ xảy ra. Việc xét điều gì sẽ xảy ra không khó vì ta có các bài học lịch sử của thế giới, nhãn tiền là của Hy lạp, Tây Ban Nha. Khi giờ G điểm những việc sau sẽ xảy ra

1. Đóng băng ngân hàng

Khi người dân thấy họ có khả nănng không lấy lại được tiền đã gửi NH họ sẽ ồ ạt đi rút tiền. Khi lượng rút lớn hơn nhiều so với lượng dự trữ bắt buộc của NH và trên diện rộng khiến cho NHNN không cứu kịp thì ngân hàng sẽ tạm đóng cửa.

Ngân hàng đóng cửa thì càng khiến cho người gửi tiền lo lắng, họ sẽ xếp hàng dài dằng dặc ở các ngân hàng. Trong khi đó ngân hàng không thể đủ tiền vật chất để trả cho người gửi sẽ tuyên bố phá sản. Ai gửi tiền ở đó coi như mất.

Với lo lắng về sự đổ vỡ hàng lọat NH, NHNN sẽ in thật nhiều tiền vật chất để chuyển cho các NHTM nhằm chặn cơn bão rút tiền.

2. Lạm phát phi mã dẫn tới đổi tiền làm lại từ đầu

NHNN sẽ hoạt động các máy in tiền hết công suất để cho NHTM vay, để trả nợ khiến cho lạm phát gia tăng đến mức mà phải vác cả bao tải tiền để để mua một cái bánh mỳ. Lúc đó chính phủ sẽ tiến hành đổi tiền; mỗi người được đổi một lượng tiền pháp định cố định.

Và như vậy những người giữ tiền mặt nhiều tỷ tỷ thì cũng chẳng khác gì anh công nhân có vài triệu. Mọi thứ làm lại từ đầu hết.

3. Sản xuất thực lên ngôi

Tại sao cách đây hai năm bỗng nhiên chính phủ lại quan tâm tới nông nghiệp đến thế. Câu trả lời đơn giản là khi tìền pháp định mất giá thì vật chất thực mới quan trọng. Nếu như VN có thể tự cung tự cấp được lương thực thì tình thế cũng không đến nỗi nào nếu cả thế giới hỗn loạn.

Khi lạm phát gia tăng các cửa hàng sẽ đóng cửa không bán hàng. Người nông dân không bán thóc mà trữ cho mình. Không ai dại gì bán hàng thực để nhận về một đống giấy lộn. Các loại hình kinh doanh không mang lại giá trị sẽ tự chết, những loại hình mang lại giá trị thực như sản xuất, trồng trọt sẽ có vị thế mới.

4. Gói cứu trợ từ WB

Đối với nợ trong nước chúng ta có thể xóa nợ bằng lạm phát nhưng với nợ nước ngoài thì lại khác. Khi ta không thể trả được nợ thì người ta cũng không cho vay thêm nữa. Mà chúng ta lại đang theo kiểu lấy khoản vay mới trả khoản vay cũ.

Chính phủ sẽ phải cầu cứu WB để xin gói giải cứu. Để nhận được gói giải cứu ta phải làm theo các điều kiện của chủ nợ giống như Hy lạp bây giờ.

5. Đồng tiền thay thế cho trao đổi tạm thời.

Giai đoạn hỗn loạn cũng phải kéo dài 1 năm là ít.

Khi người sản xuất không bán cho người mua để nhận tiền pháp định nữa thì chẳng nhẽ họ cứ giữ mãi à? Câu trả lời là loài người sẽ quay lại cách thức nguyên thủy là hàng đổi hàng và cuối cùng là Vàng.

Đó là câu trả lời quan trọng tại sao vàng luôn được loài người cất giữ. Vì lúc này đây để mua lương thực thực phẩm chúng ta sẽ hoặc là mang đồ đạc đi đổi hoặc là cầm vàng đi mua.

6. Hỗn loạn

Chúng ta những người làm công ăn lương và công ty phá sản do họ không bán được hàng và ta bị đẩy ra ngoài đường. Bỗng nhiên ta thấy rằng ta thậm chí không đủ tiền để mua lương thực cho gia đình đủ ăn hàng ngày.

Khi lạm phát phi mã, ta phải mang đồ đạc trong nhà đi đổi lấy lương thực. Rồi thì đồ đạc cũng hết hoặc 1 món đồ trước đây giá vài chục triệu giờ chỉ có thể đổi lấy vài cân gạo dùng cho 2 ngày.

Thế giới chắc không để chúng ta chết đói vì vậy đã có sẵn những nơi phát chẩn. Mỗi ngày chúng ta xếp hàng hai lần để xin hai bữa ăn, con cái chúng ta cũng trong hàng người vì người ta cũng chỉ cho đủ 1 xuất của người xếp hàng.

7. Chiến tranh, cướp bóc

Khi người ta đói thì người ta đi cướp bóc và vì vậy ngoài việc chống khỏi chết đói ta còn lo về an toàn mạng sống cho bản thân và gia đình nữa.

Khi một nước đói họ sẽ xâm chiếm các nước khác để cướp tài nguyên, lương thực.

Kịch bản sẽ xảy ra như vậy chỉ có không biết lúc nào, chúng ta sẽ bị kéo lùi lại vài chục năm quay trở lại thời bao cấp. Nếu như dự án tàu cao tốc bắc nam với số nợ 56 tỷ đô được QH phê duyệt năm 2010 thì giờ này có khi nó đã xảy ra rồi. Hy vọng nó không xảy ra vào đời của chúng ta và con cái chúng ta.

 

Nhãn: , ,

Chiến lược đầu tư P 5 ( Tình hình kinh tế 3 năm tới)


Sẽ có người thắc mắc là tại sao đang bàn tới chủ đề đầu tư mà lại quay sang bàn về thâm hụt ngân sách,… Lý do là các hình thức đầu tư phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng có một điểm chung đó là phụ thuộc vào các chính sách vĩ mô của chính phủ và cả kinh tế thế giới.

Nguyên tắc đầu tư hết sức rõ ràng là mua tại thời điểm mà tài sản đó bị định giá thấp hơn giá trị thực và bán tại thời điểm mà tài sản đó bị định giá cao hơn giá trị thực.

Bước ngoặt của việc thay đổi từ định giá thấp tới tăng dần để trở thành định giá cao đó là các cú sốc. Các cú sốc sẽ tạo ra các trào lưu tâm lý khiến  cho người ta tập trung vào thổi bong bóng một tài sản và làm tài sản khác giảm. Cú sốc được tạo ra bởi yếu tố ngoài nước và yếu tố trong nước.

Khi xét yếu tố ngoài nước chúng ta có thể thấy  các sự kiện như chiến tranh thế giới I,II, chiến tranh vùng vịnh, vụ khủng bố 11/9 đều là những sự kiện ảnh hưởng lớn tới tâm lý nhà đầu tư khiến cho các tài sản đảo chiều.

Đứng ở yếu tố trong nước, các quyết định về về tăng giá xăng,nghị quyết 24 về quản lý vàng, …đều là những cú sốc. Nhưng cú sốc mạnh nhất, kịch bản rồi sẽ xảy ra là sự phá sản giống như đã xảy ra ở châu âu nếu như ta không có biện pháp mạnh mẽ. Như vậy nếu như bạn có mối quan hệ với các nhà làm luật để biết trước các cú sốc trong nước sẽ xảy ra thì là một lợi thế rất lớn.

Entry trước chúng ta biết rằng với tốc độ thâm hụt ngân sách 15% thêm mỗi năm thì tới 2016 nợ chính phủ chính thức vượt 100% tổng sản phẩm quốc nội GDP. (con số của thế giới tính cho VN là nợ tăng mỗi năm là 12%)

bieudono

Người ta so nợ với % của GDP nhằm xác định khả năng trả nợ. Tuy nhiên cho dù nợ có vượt 100% GDP thì đó chưa phải là vấn đề, vấn đề lớn nhất ở đây chính là việc các chủ nợ có niềm tin rằng chúng ta có trả nợ được hay không. Vì nuôi một con nợ sẽ tốt hơn là siết nợ nó, chẳng ai được lợi.

Tổng nợ của thế giới đang ơ mức hơn 50.000 tỷ USD. Tham khảo biểu đồ nợ thế giới tại đây: http://www.economist.com/content/global_debt_clock

Biểu đồ dưới là nợ của Mỹ:

debt-and-gdp-main6Mỹ là nước có nợ rất lớn mà người ta tính ra là mỗi người Mỹ nợ 38.000 USD; so với VN tới đúng 18h14′ ngày 15/5/2013 là 814 usd/ người chiếm 49% GDP.

Nhìn biểu đồ này chúng ta sẽ thấy thời điểm chiến tranh thế giới sau đó là chiến tranh Việt Nam, Mỹ nợ nhiều nhất. Trong các nguyên nhân làm nợ Mỹ tăng thì chúng ta cũng nên tự hào là chiến tránh VN cũng góp phần không nhỏ. Sau đó nợ có xu hướng giảm dần và bắt đầu tăng trở lại kể từ sau năm 2000.

Vấn đề lớn ở đây như đề cập ở trước là đối với VN thì với các khoản nợ bằng VNĐ thì nhà nước bí lắm sẽ in thêm tiền để trả. Nhưng đối với khoản nợ nước ngoài trả bằng USD thì nhà nước gặp vấn đề kiếm usd trả nợ.

Tuy nhiên nếu như chính phủ giữ được thặng dư thương mại như hiện nay để dòng USD đổ vào VN thì chính phủ có thể in VNĐ và mua USD này sau đó trả nợ.

Với Mỹ thì khác, Mỹ có khả năng in USD vì vậy cho dù nợ trong hay ngoài nước thì Mỹ đều có thể thanh toán được. Chỉ có điều khi in USD để trả thì USD sẽ mất giá cho dù rằng phạm vi của USD là cả thế giới. Gần đây nhất thì Mỹ có các gói QE1 và QE2 chính là tăng cung tiền dưới bề ngoài là kích thích tăng trưởng.

6a01348793456c970c0168eaf01f27970c-450wi

Ngoài ra uy tín của Mỹ là rất lớn, khác với Việt nam mới bị Moody hạ bậc tín nhiệm trái phiếu từ mức B2 xuống B1 ngày 28/9/2012. Với uy tín thấp đương nhiên là lãi suất trái phiếu chính phủ sẽ tăng lên và các chủ nợ sẽ nghi ngại.

Dựa các kết luận trên chúng ta có thể rút ra mấy xu hướng chính:

1. Chính phủ sẽ phải tăng dự trữ ngoại tệ

– Nếu như người dân, DN mà tích USD thì không ổn vì vậy chính phủ phải đưa ra chính sách để người dân và doanh nghiệp không tích USD nữa mà bán cho NHNN.

2. Chính phủ phải in tiền để mua USD từ doanh nghiệp nhập khẩu:

Như vậy sẽ làm tăng cung tiền. Để không làm tăng lạm phát chính phủ lại phải hút tiền vào thông qua các chính sách tiền tệ điển hình sẽ phải là tăng trần lãi xuất huy động, tăng lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu hoặc là bán ra trái phiếu chính phủ.

Hiện tại NH vừa giảm lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu và trần huy động với mục đích tăng cung tiền nhằm kích thích tăng trưởng thông qua việc tăng cầu nhà đất và sản xuất. Sở dĩ như vậy vì ưu tiên hiện nay là kích thích tăng trưởng để thoát khỏi khủng hoảng.

3. Chính phủ càng phải thắt chặt vàng

Theo xu thế thì do bản thân do Mỹ tăng cung tiền USD nên USD cũng sẽ mất giá trước vàng. Vì vậy rất nhiều sách vở bảo các nhà đầu tư trú chân ở vàng.

Cũng giống với USD, NN phải quản lý được vàng để người dân không muốn tích vàng. Khi người dân tích vàng thì NN lại phải mất ngoại tệ để nhập vàng vì vậy để bảo tồn dự trữ ngoại tệ chính phủ ra cách chính sách quản lý.

Để chống buôn lậu vàng, chính phủ độc quyền vàng miếng SJC. Với giá trong nước lớn hơn 4tr so với giá ngoài nước thì các nhà đầu tư sẽ không còn muốn mua vàng nữa và tự nó cầu vàng sẽ giảm vì cung là độc quyền không tăng. Những người giữ vàng thấy giá cao sẽ bán ra vì vậy lấy mỡ nó dán nó khỏi phải nhập vàng.

5. Chu kỳ kinh tế sẽ như thế nào?

Có một bài toán nan giải đó là để tăng trưởng thì phải nới lỏng chính sách tài khóa. Nhưng nếu nới lỏng thì đồng nghĩa với thâm hụt tăng. Khi bánh đà kinh tế đang đứng yên hiện nay thì phải thâm hụt bao nhiêu để nó nhúc nhích? Chúng ta không còn nhiều dự địa như những năm 2000 nữa.

Liệu bài toán có đơn giản như một vị nào đó gần đây đã phát biểu khi NHNN giảm lãi suất huy động xuống là sẽ khiến người dân rút tiền ra để đầu tư vào kinh doanh sản xuất?

6. Kịch bản của phá sản là gì?

Hãy nhìn Hy lạp thì biết khi một nước phá sản thì điều gì xảy ra.

Các kênh đầu tư còn lại là gì khi NN đã đã đóng cái chuồng vàng, chuồng ngoại tệ, rồi gần đây lại còn giảm lãi xuất tiết kiệm để đuổi nốt đàn cừu trú ẩn trong đó ra nữa? Câu trả lời chỉ còn lại là ba đó là chứng khoán, tự KDSX và Nhà đất.

Nếu như mọi thứ diễn ra theo đúng kịch bản thì chắc chắn đàn cừu sẽ đổ vào nhà đất vì người dân hiện rất mất niềm tin vào thị trường chứng khoán. Quan trọng là chữ Nếu.

(Các entry sau: Cung cầu vàng, Cung cầu nhà đất và Thị trường hối đoái)

 

Nhãn: , ,

Chiến lược đầu tư P4 (Chính sách tài khóa thâm hụt)


Entry trước chúng ta bàn tới cung tiền. Cung tiền được thực hiện bởi chính sách tiền tệ. Nhưng người tiêu tiền nhiều nhất đặc biệt là Việt Nam không phải là người dân, doanh nghiệp mà là chính phủ. Chính phủ có chính sách tài khóa, là chính sách thể hiện việc thu chi hàng năm.

Đa phần các nước trên thế giới đều theo chính sách Tài khóa thâm hụt, có nghĩa là tổng chi bao giờ cũng lớn hơn tổng thu đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, Nhật,…

Nguyên nhân các nước theo chính sách này có hai lý do chính:

1. Giống như với doanh nghiệp, để có thể có lợi nhuận lớn thì doanh thu lớn, muốn doanh thu lớn thì vốn chủ sở hữu là không đủ vì vậy phải đi vay.

2. Khi một nước đã theo chính sách tài khóa thâm hụt thì sẽ không có đường lùi nữa mà chỉ có thể điều chỉnh con số thâm hụt được thôi. Nguyên nhân rất đơn giản vì khi người ta đã sướng rồi thì người ta rất khó mà khổ.

Muốn cắt giảm chi thì phải cắt giảm chi tiêu an sinh xã hội, phải giảm lương cơ bản, giảm đầu tư công..Nhưng như ta đã thấy hiện nay, chỉ cần tăng một cái gì đó lên thôi là cả xã hội đã kêu oai oái rồi. Đứng trước hai sự lựa chọn 1. Nhân dân oán thán dẫn tới khả năng bạo động lật đổ và 2. Sự sụp đổ kinh tế có thể xảy ra nhưng không phải ở nhiệm kỳ này thì các nhà lãnh đạo luôn chọn lựa chọn 2.

Vì vậy khi Mỹ chạm trần nợ công thì nhân dân sẽ ủng hộ tăng trần nợ công chứ không phải là thắt chặt chi tiêu. Tương tự khủng hoảng nợ ở các nước châu âu hiện nay, các chủ nợ của Hy lạp thì kêu gọi thắt chặt chi tiêu, người dân thì phản đối đòi nới lỏng để cuộc sống đỡ khó khăn.

Phía dưới là biểu đồ thâm hụt ngân sách từ 2005 tới 2011 của Việt Nam

clip_image024Biểu đồ này cho thấy chúng ta ngày càng chi nhiều hơn thu. Năm 2005 thâm hụt là 40.700 tỷ thì 2011 là 120.000 tỷ. Năm 2012 bội chi là 140.000 tỷ, nghiên cứu cân đối ngân sách tại đây

Chi ngân sách có mối tương quan với tổng sản phẩm quốc nội GDP.

Công thức tính tổng sản phẩm quốc nội GDP ..theo phương pháp chi tiêu của Việt Nam thì GDP = C + I + G + NX. Trong đó C là chi tiêu của người dân, I là chi tiêu của doanh nghiệp. G là chi tiêu của chính phủ, NX là xuất khẩu ròng. Công thức này thể hiện việc GDP tỷ lệ thuận với chi tiêu của chính phủ.

Tuy nhiên một đồng tiêu ra không phải là tạo ra một đồng của GDP mà là còn hệ số ICOR nữa, Bảng dưới là hệ số ICOR của VN so với các nước khác:

IcorTa thấy năm 1996 cứ 2,8 đồng tiêu ra thì thu về 1 đồng GDP, chỉ số có chiều hướng giảm dần và bắt đầu từ 2000 thì hệ số xoay quanh mức 4,8 đồng ăn 1 đồng. Như vậy xét về hiệu quả đầu tư coi như chúng ta giảm một nửa, cũng có nghĩa là để vẫn tạo ra GDP như của năm 1996 thì năm 2012 sẽ phải cần chi gấp đôi.

Nếu như chi nhiều hơn thu thì đương nhiên là phải vay nợ. Biểu đồ nợ:

bieudono

Năm 2010 tổng nợ công là 55,2 tỷ chiếm 54,3%. Năm 2001 tổng nợ công là 11,5 tỷ chiếm 11%. Nợ tăng bình quân 15% một năm, tới 2016 nợ công sẽ lớn hơn 100% GDP (con số Hy lạp khủng hoảng nợ là 133%)

Giống như một gia đình khi tiêu hết tiền tích lũy, thì nợ sẽ bằng tổng chi trừ đi tổng thu. Vì vậy nợ Việt Nam bản chất là tổng của các năm thâm hụt. Cơ cấu nợ sẽ có khoảng 62% nợ nước ngoài và 38% là nợ trong nước.

Nợ trong nước chính là chính phủ phát hành trái phiếu trong nước. Trái phiếu này được trả bằng VNĐ vì vậy về nguyên tắc khi tới hạn thanh toán chính phủ có thể in thêm tiền để trả nợ. Nhưng cơ bản thì cách thức vẫn là phát hành trái phiếu lần sau cao hơn lần trước để lấy tiền thu về trả cho tiền nợ, còn dư ra một khoản để bù đắp thâm hụt.

Nợ nước ngoài chiếm 38% chủ yếu là nợ ODA, hoặc chính phủ bảo lãnh cho doanh nghiệp vay nợ nước ngoài. Nợ nước ngoài thì phải trả bằng USD, USD thì chính phủ không thể in được. Chính phủ sẽ phải trả nợ nước ngoài bằng USD vì vậy sẽ có rủi ro nếu như chính phủ không tích đủ USD trong khi vẫn phải bảo vệ giá trị tiền đồng.

Chúng ta và các chính phủ theo chính sách tài khóa thâm hụt có trả được nợ không?

Câu trả lời xuất phát từ việc chúng ta làm gì để giảm thâm hụt rồi tiến tới thặng dư. Chúng ta trả nợ bằng cách tăng hệ số ICOR, tăng quy mô của khối doanh nghiệp để vẫn đảm bảo GDP tăng mà không phải chi nhiều hơn, giảm quy mô của chính phủ xuống vì chính phủ không chỉ riêng VN cứ đụng tới đâu là hiệu quả thấp tới đó.

Nhìn câu trả lời chúng ta sẽ thấy nhãn tiền là chúng ta chẳng bao giờ có thể trả được nợ, mà chỉ có thể ngày càng nợ thêm.Ngay ví như gia đình chúng ta thường xuyên là chi bằng thu, khi thẻ tín dụng ra đời thì chi còn hơn thu.Với quy mô của chính phủ thì vấn đề không hề đơn giản tí nào đấy là còn chưa kể quả bom nổ chậm là các khoản nợ trôi nổi.

Nợ trôi nổi là gì?

Chúng ta đóng lương hưu với khoảng 30% lương cơ bản để mong được hưởng bảo hiểm y tế và nhận lương hưu khi về hưu. Nguyên tắc của chính phủ đối với khoản này là lấy tiền của người sau trả tiền cho người trước.

Vấn đề sẽ trở nên rất lớn nếu như số người sau ngày càng ít đi trong khi số người trước ngày càng tăng lên. Chính phủ sẽ không còn có thể lấy mỡ nó dán nó nữa mà phải chi thực. Tuổi thọ ngày nay ngày càng cao, bệnh tật ngày càng nhiều, lứa tuổi của tôi là lứa tuổi vàng thì cũng có nghĩa là 20 năm nữa tỷ lệ này sẽ thấp dần đi.

<entry sau: Tình hình kinh tế 3 năm tới>